Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030 là sự cụ thể hóa định hướng phát triển đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Định hướng đó nhất quán với đường lối xây dựng, phát triển đất nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những nhận thức mới trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030 xuất phát từ những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, từ bối cảnh thế giới hiện đại và điều kiện đặc thù cũng như yêu cầu mới đặt ra của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, nhằm tìm ra những giải pháp tích cực nhất để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Căn cứ vào bối cảnh, tình hình chung thế giới và trong nước, đặc biệt là những thành tựu to lớn, toàn diện trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Báo cáo Chính trị cũng như các văn kiện của Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu tổng quát phát triển đất nước là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã  hội chủ nghĩa”(1). Từ mục tiêu tổng quát đó, các văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu cụ thể:

– Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

– Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

– Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030. Định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới kế tục nhất quán những quan điểm, chủ trưong cốt lõi trong 12 định hướng tổng quát về các lĩnh vực của đời sống xã hội đã xác định trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng, nhưng có nhiều nhận thức mới về cách tiếp cận, mục đích và nội dung.

Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững

Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng thứ nhất là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường…, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(2). Đây là lần đầu tiên, vấn đề “thể chế phát triển bền vững” được đặt ra trong một văn kiện đại hội Đảng. Trước đó, tại Đại hội XII, vấn đề thể chế chỉ được nhắc đến trong nhiệm vụ tổng quát thứ hai là “Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(3); nói cách khác, tức là mới chỉ đề cập đến hoàn thiện thể chế phát triển của lĩnh vực kinh tế. Báo cáo Chính trị của Đại hội XIII đề cập “thể chế phát triển bền vững”, tức là thể chế bảo đảm cho sự vận hành đồng bộ, thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các lĩnh vực trong đời sống, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế, hướng tới thực hiện yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong thể chế phát triển, thể chế chính trị là yếu tố trung tâm, quyết định, chi phối đối với thể chế của các lĩnh vực còn lại.

Việc nhấn mạnh và đặt “thể chế phát triển bền vững” là định hướng phát triển đầu tiên nói lên điều gì?

Thứ nhất, đó là nhận thức mới của Đảng ta về ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của thể chế phát triển bền vững đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó chính là điều kiện quyết định để “tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi  dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Đó cũng chính là bài học được rút ra từ thực tiễn lãnh đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Quá trình thực hiện đường lối đổi mới trong 35 năm qua đã không chỉ cho thấy vai trò, ý nghĩa to lớn của thể chế đối với sự phát triển nói chung, mà còn chỉ ra trách nhiệm to lớn, nặng nề và có ý nghĩa quyết định của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện thể chế phát triển nói chung, nhất là thể chế chính trị – một điều kiện sống còn cho công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, phải chăng thể chế của chúng ta hiện nay nói chung còn có nhiều vấn đề, hạn chế, tạo ra những vướng mắc, gây ra những khó khăn cho việc huy động nguồn lực, sức mạnh để phát triển đất nước một cách đồng bộ, bền vững. Việc nhận ra những hạn chế, vướng mắc về thể chế phát triển chính là thể hiện thái độ nghiêm khắc, tinh thần trách nhiệm và phương pháp khoa học, thực tế, khách quan của Đảng trong lãnh đạo đất nước với tư cách một đảng cầm quyền.

Thứ ba, cùng với những hạn chế của hệ thống thể chế phát triển bền vững hiện nay thì sự vận động của tình hình chung trên thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực dẫn đến những thay đổi to lớn, mạnh mẽ, toàn diện của thực tiễn và những yêu cầu mới đặt ra đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới cũng đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện thể chế phát triển bền vững. Đó là vấn đề có tính quy luật, là một yêu cầu khách quan, là điều kiện căn bản bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Hơn thế nữa, đây cũng là bài học có tính phương pháp luận cho chúng ta,  đó là phải luôn nhìn thẳng vào sự thật và xác định phương hướng phát triển đất nước phải xuất phát từ các điều kiện thực tế.

Tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh

Báo cáo Chính trị của Đại hội XIII cũng yêu cầu “hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như Báo cáo Chính trị của Đại hội XII, nhưng với nội dung và mục đích mới. Nếu ở Đại hội XII, việc hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế và quản lý nhà nước về kinh tế, thì Đại hội XIII nhấn mạnh mục đích “tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh”(4). Từ thực tế huy động và sử dụng nguồn lực đất đai vừa qua, có thể thấy, thể chế hiện tại có nhiều vấn đề cần hoàn thiện, nếu không sẽ không chỉ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, mà còn là nguyên nhân của những mâu thuẫn, xung đột dẫn đến bất ổn về an ninh, trật tự xã hội. Trên thực tế, thể chế quản lý, phân bổ nguồn lực tài nguyên khoáng sản, nguồn lực tài chính, nhất là ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác trong xã hội đều chưa thật chặt chẽ, hợp lý và hiệu quả theo yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đúng như đánh giá trong Báo cáo Chính trị, chúng ta vẫn “chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển”(5); hay đánh giá trong Báo cáo Kinh tế – Xã hội: “Cơ chế phân cấp quản lý kinh tế, quản lý ngân sách nhà nước và đầu tư được đẩy mạnh nhưng trong thực hiện còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả…”(6). Như vậy, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm “tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực” chính là một cách tiếp cận vấn đề mới, rất thực tế, một phương hướng hợp lý, tích cực nhằm phát triển kinh tế – xã hội đất nước nhanh và bền vững.

Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài

Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, yêu cầu mới đặt ra trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng là: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”(7). Việc nhấn mạnh yêu cầu tạo đột phá trong đổi mới giáo dục và đào tạo, lĩnh vực quốc sách hàng đầu của đất nước, xuất phát từ tình hình thực tế của lĩnh vực này trong nhiệm kỳ vừa qua, như đánh giá trong Báo cáo Chính trị: “Đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội”(8). Một mặt, sự hạn chế đó thể hiện trên các bình diện, như từ tư duy, chính sách, giải pháp, tổ chức hệ thống, công tác tổ chức, cán bộ, đến chất lượng, hiệu quả giáo dục; vấn đề giáo dục con người, đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục nghề nghiệp, kỹ năng thực hành, giáo dục kết hợp nghiên cứu khoa học,… Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, sự tích lũy kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại, đòi hỏi không được chậm trễ trong việc đổi mới cách tiếp cận, nội dung, phương pháp trong giáo dục, đào tạo. Từ thực tiễn ấy, tạo đột phá là yêu cầu bức thiết, khách quan và hợp lý nhằm không chỉ bảo đảm những mục tiêu về giáo dục, mà còn là yêu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trọng dụng nhân tài.

Trong lĩnh vực phát triển, nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ, văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu mới, gắn liền khoa học – công nghệ với những vấn đề, đòi hỏi từ bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ. Đồng thời, Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, cụ thể hóa hơn yêu cầu mới cho phát triển khoa học – công nghệ; trong đó, chú trọng đến một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới. Văn kiện Đại hội XIII cũng xác định rõ hơn nội dung, mục tiêu của khoa học – công nghệ phục vụ cho yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo – một động lực hàng đầu, đáp ứng những yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện. Báo cáo Chính trị của Đại hội XIII không chỉ dừng lại ở đó, mà còn nhấn mạnh yêu cầu về phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây chính là một bước nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ giữa văn hóa và con người, nhấn mạnh hơn đến vai trò của con người với tính chất là chủ thể và cũng là mục đích của phát triển nền văn hóa. Phát triển nền văn hóa chính là phát triển con người và ngược lại. Cùng với chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, sự tăng cường và gắn kết xây dựng con người và nền văn hóa trong một thể thống nhất sẽ là cơ sở vững chắc để “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, không chỉ làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, mà còn trở thành động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Đối với lĩnh vực quản lý phát triển xã hội, cùng với những nội dung nhất quán trong đường lối của Đảng về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách người có công, lao động, việc làm, chăm sóc sức khỏe nhân dân, định hướng trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng thể hiện nhận thức mới, nhất quán của Đảng về xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp, bảo đảm tự do, công bằng, tiến bộ xã hội, môi trường sống lành mạnh, điều kiện phát triển toàn diện, tốt đẹp cho mỗi người dân trong đó, chú trọng đến việc xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là sự tiếp nối nhất quán đường lối về chính sách xã hội được đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): Kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và từng chính sách. Đồng thời, Đại hội XIII của Đảng, một mặt, cũng nhấn mạnh, làm rõ hơn yêu cầu về xây dựng một môi trường xã hội có đạo đức lành mạnh, nhấn mạnh vấn đề cải thiện toàn diện đời sống nhân dân, một đòi hỏi chính đáng theo đúng mục đích của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước là vì con người; mặt khác, nhấn mạnh đến việc xây dựng nền đạo đức lành mạnh trong môi trường sống. Đây cũng là vấn đề đặt ra từ mặt trái của cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường, từ sự tổng kết, đánh giá nghiêm túc thực tế xã hội trong giai đoạn phát triển vừa qua, từ tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang có những diễn biến phức tạp, chưa thể đẩy lùi, xóa bỏ một cách triệt để.

Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh

Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đưa nội dung “Khai thác, sử dụng và quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ môi trường” đã được đặt ra từ Đại hội XII là một trong những định hướng phát triển, nhưng có đổi mới về cách tiếp cận. Nếu Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng đặt ra định hướng “chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”, thì Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu và diễn đạt mới về yêu cầu này: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh”(9). Nhận thức mới của Đảng về vấn đề này xuất phát từ những nghiên cứu, dự báo về tình hình biến đổi khí hậu, nước biển dâng ngày càng có chiều hướng tăng lên, những diễn biến phức tạp ngày càng khắc nghiệt của thời tiết, dịch bệnh đối với con người và cây trồng, vật nuôi trong thời gian gần đây. Đặc biệt, vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một nguy cơ lớn đối với nước ta, đe dọa đến an ninh lương thực của cả nước, vấn đề định cư và an ninh con người đối với hàng chục triệu người dân ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và một số khu vực ven biển ở miền Bắc, miền Trung.

Về vấn đề bảo vệ môi trường, Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa hơn, đưa ra những nội dung cốt yếu cho giai đoạn tới là: “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”(10).

Về định hướng quốc phòng, an ninh

Trên cơ sở định hướng về quốc phòng, an ninh đã được khẳng định tại Đại hội XII của Đảng; trong đó, coi tăng cường quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, mục tiêu đặt ra cho công tác quốc phòng và an ninh của đất nước là: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”; Báo cáo Chính trị của Đại hội XIII đã cụ thể hóa hơn một bước, nhấn mạnh yêu cầu về “Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”(11). Đồng thời, văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh một số khía cạnh cụ thể trong định hướng về quốc phòng, an ninh. Đó là: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch…”(12). Việc nhấn mạnh yêu cầu giữ vững an ninh quốc gia nói chung và an ninh, trật tự trên một số lĩnh vực cụ thể là kết quả của sự nhận thức mới của Đảng, xuất phát từ những diễn biến phức tạp của tình hình an ninh thế giới vừa qua, từ những nghiên cứu dự báo về các yếu tố có thể tác động đến tình hình an ninh của nước ta trong thời gian tới, nhất là những vấn đề an ninh phi truyền thống, an ninh trên Biển Đông và an ninh tư tưởng trong đời sống xã hội.

Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả

Về định hướng công tác đối ngoại, Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định những quan điểm đã được xác định tại Đại hội XII là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(13). Đồng thời, Báo cáo Chính trị cũng nhấn mạnh thêm yêu cầu “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả”. Đây là nội dung yêu cầu mới mà Đại hội XIII của Đảng đặt ra trong điều kiện sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã mở cửa, kết nối và thiết lập các mối quan hệ rộng lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực với thế giới. Chúng ta đã là thành viên có uy tín của Liên hợp quốc với 2 lần tham gia vào Hội đồng Bảo an; đồng thời, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế có quy mô toàn cầu và khu vực. Nước ta có quan hệ ngoại giao với 188 trong tổng số 193 thành viên của Liên họp quốc. Nền kinh tế nước ta có quan hệ thương mại với hơn 220 nền kinh tế trên toàn cầu. Chúng ta đã ký kết rất nhiều hiệp định thương mại với các đối tác trên thế giới; trong đó, có những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có tầm ảnh hưởng to lớn, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Trong điều kiện “hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, chủ động và tích cực là đòi hỏi mới, không chỉ là điều kiện cho chúng ta bảo đảm hiệu quả quá trình hội nhập, mà hơn thế, còn bảo đảm cho sự độc lập, tự chủ của nền kinh tế, sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước, của chế độ.

Về quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân

Định hướng về vấn đề thực hành và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu về “quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân”. Đây không phải là những yêu cầu mới đặt ra lần đầu, nhưng lâu nay, việc thực thi còn nhiều vướng mắc, hiệu quả thực tế chưa cao. Cùng với những kết quả quan trọng về “thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước”, tôn trọng, bảo vệ “quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”, tăng cường “dân chủ ở cơ sở”…, trên thực tế vẫn còn tình trạng quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm, vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó là do nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa thống nhất và xuất hiện những vướng mắc về thể chế, cơ chế trong tổ chức và thực hiện. Yêu cầu nhấn mạnh “quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân” chính là cách để phát huy hiệu quả tích cực, thực tế vai trò là chủ, làm chủ, năng lực tự quản lý của các cộng đồng dân cư, thể hiện đúng hơn bản chất tốt đẹp “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nhà nước ta, chế độ ta.

Định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Về định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”(14). Đây không chỉ là định hướng, mà còn chính là những giải pháp hơp lý, những yêu cầu mới đặt ra giúp cho việc xây dựng, củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những yêu cầu, giải pháp này không chỉ xuất phát từ tính quy luật chung của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, mà còn xuất phát từ tình hình thực tế vừa qua, như Báo cáo Chính trị đã đánh giá: “Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ”(15). Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng buông lỏng kỷ luật, kỷ cương; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của một số cơ quan chính quyền còn thấp; quyền và lợi ích của người dân có nơi chưa được quan tâm bảo vệ và bảo đảm.

Gắn công tác xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa then chốt, quyết định đối với toàn bộ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, vì thế, nội dung định hướng xây dựng Đảng trong các kỳ đại hội Đảng đều rất được quan tâm. Đại hội XII của Đảng đề ra nhiệm vụ tổng quát thứ 11 là: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, sức chiến đấu, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, công tác kiểm tra, giám sát và công tác dân vận của Đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục các nhiệm vụ đó và có nội dung mới được bổ sung, làm rõ hơn. Đó là gắn công tác xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Với trách nhiệm Đảng cầm quyền, vai trò, ý nghĩa, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có thể thông qua Nhà nước pháp quyền và hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể nhân dân. Yêu cầu “xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” chính là đặt Đảng trong cơ cấu thống nhất của hệ thống chính trị, đòi hỏi sự xây dựng đồng bộ các yếu tố tạo thành một hệ thống, trong đó trách nhiệm đầu tiên quyết định thuộc về Đảng.

Về các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định 8 mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước là: 1- Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; 2- Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; 3- Giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; 4- Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; 5- Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; 6- Giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; 7- Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; 8- Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Tại Đại hội XII, Đảng ta bổ sung mối quan hệ lớn thứ 9: “quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII bổ sung mối quan hệ lớn thứ 10, đó là: Quan hệ giữa “’thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”. Một mặt, việc bổ sung mối quan hệ lớn giữa “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” xuất phát từ một vấn đề có tính quy luật trong quản lý xã hội, đó là dân chủ phải đi liền với kỷ cương, tự do không thể tách rời trách nhiệm. Mặt khác, đây cũng là một yêu cầu xuất phát từ kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn quản lý xã hội trong thời gian vừa qua. Thực tế đã chỉ ra rằng, những hạn chế và các vấn đề phức tạp nảy sinh trong đời sống xã hội đều có chung một nguyên nhân quan trọng là không thực hành đồng bộ giữa dân chủ với pháp chế, kỷ cương.

(Nguồn TCCS)


————————

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 111 – 112
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr. 114
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 77
(4), (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr. 114, 80
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.II, tr. 67
(7), (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr. 115, 82
(9), (10), (11), (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr. 116, 117
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 79
(14), (15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr. 118, 89
(16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 80

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây